Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời ngày 8/8/1967 tại Bangkok với năm nước sáng lập: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Đại diện Singapore ký Tuyên bố Bangkok là Ngoại trưởng S. Rajaratnam. Lúc đó Singapore mới độc lập được gần hai năm.
Với Singapore, ASEAN giải quyết một bài toán cụ thể: biến quan hệ với hai láng giềng lớn từng căng thẳng, Malaysia và Indonesia, thành quan hệ trong một khuôn khổ có quy tắc, gặp gỡ thường xuyên và cam kết không dùng vũ lực. Dưới thời Lý Quang Diệu, Singapore vừa là thành viên nhỏ nhất về diện tích, vừa là một tiếng nói tích cực về kinh tế và an ninh khu vực. Bài này đi qua bối cảnh, các mốc chính và những giới hạn của khối.
Đông Nam Á năm 1967: vì sao cần một khối khu vực
Giữa thập niên 1960, Đông Nam Á là vùng nhiều bất ổn. Chiến tranh ở Việt Nam đang leo thang; Indonesia vừa trải qua biến động chính trị lớn năm 1965 và chính sách Đối đầu với Malaysia chỉ chấm dứt năm 1966; Philippines và Malaysia có tranh chấp về Sabah; Singapore vừa tách khỏi Malaysia. Các nước không cộng sản trong vùng lo ngại về an ninh nội bộ lẫn sức ép từ bên ngoài.
Trước ASEAN đã có những tổ chức khu vực nhưng tồn tại ngắn, như Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) năm 1961 của Malaya, Philippines, Thái Lan, hay nhóm Maphilindo năm 1963. Chúng vướng vào chính các tranh chấp giữa thành viên. ASEAN được thiết kế mềm hơn: một tuyên bố chứ không phải hiệp ước, mục tiêu chính thức tập trung vào hợp tác kinh tế, xã hội, văn hoá, còn ý nghĩa chính trị nằm ở việc các nước ngồi lại với nhau.
Chính sự mềm dẻo này giúp tổ chức sống sót. Các nước có thể bất đồng mà không phải rời khối, và thói quen gặp nhau đều đặn dần dần tạo ra lòng tin mà không văn bản nào áp đặt được.
Singapore được gì khi đứng trong ASEAN
Lợi ích đầu tiên là an ninh qua quan hệ láng giềng. Một Singapore đứng riêng dễ bị nhìn như "người ngoài" trong khu vực, đặc biệt với hình ảnh một thành phố có đa số cư dân gốc Hoa giữa các nước Mã Lai. Trong ASEAN, Singapore là một thành viên ngang hàng, cùng chia sẻ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp. Điều này làm giảm nguy cơ các tranh chấp song phương leo thang.
Lợi ích thứ hai là tiếng nói tập thể. Một mình Singapore nói ở Liên Hợp Quốc hay với các cường quốc thì trọng lượng hạn chế; năm hoặc mười nước cùng một lập trường thì khác. Lý Quang Diệu nhiều lần nói đại ý rằng ASEAN cho phép các nước nhỏ và trung bình trong vùng có tiếng nói mà từng nước riêng lẻ không có.
Lợi ích thứ ba đến chậm hơn: thị trường và chuỗi sản xuất khu vực. Trong những năm đầu, hợp tác kinh tế ASEAN tiến chậm vì các nước có cơ cấu kinh tế cạnh tranh hơn là bổ sung nhau, và Singapore tự tìm thị trường toàn cầu thay vì chờ khu vực. Phải đến thập niên 1990, với Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, tầng lợi ích này mới rõ hơn.
Dòng thời gian: Singapore trong các mốc của ASEAN
Dưới đây là các mốc chính đã được ghi nhận rộng rãi, tập trung vào giai đoạn Lý Quang Diệu còn giữ vai trò trong nội các:
- 1967: Tuyên bố Bangkok thành lập ASEAN, Singapore là một trong năm nước sáng lập.
- 1971: Tuyên bố Kuala Lumpur về Khu vực Hoà bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN), thể hiện mong muốn khu vực không bị các cường quốc chi phối.
- 1976: Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN đầu tiên ở Bali; ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC); lập Ban Thư ký ASEAN đặt tại Jakarta.
- 1979–1991: ASEAN, trong đó Singapore là một tiếng nói tích cực, theo đuổi lập trường chung về vấn đề Campuchia tại Liên Hợp Quốc cho tới khi có Hiệp định Paris năm 1991.
- 1984: Brunei gia nhập, thành viên thứ sáu.
- 1992: Hội nghị Thượng đỉnh tại Singapore khởi động Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
- 1994: Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) về an ninh được thành lập, có sự tham gia của các cường quốc.
- 1995–1999: Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997), Campuchia (1999) gia nhập, ASEAN đủ mười nước.
Có thể thấy vai trò của Singapore nổi bật nhất ở mảng kinh tế (AFTA) và trong việc kéo các cường quốc vào đối thoại an ninh với khu vực, hai mảng khớp với tư duy "giữ cho các nước lớn có cổ phần" đã nói ở trên.
"Phương cách ASEAN" và cách Singapore thích nghi
Đồng thuận. Các quyết định quan trọng thường cần đồng thuận, nên tiến độ chậm nhưng ít ai bị ép. Với một nước nhỏ, cơ chế này bảo vệ quyền phủ quyết ngầm của mình, đổi lại phải kiên nhẫn với nhịp chung.
Không can thiệp vào công việc nội bộ. Nguyên tắc này giúp các nước có thể chế khác nhau cùng hợp tác. Singapore là bên hưởng lợi rõ: không ai can thiệp vào cách họ tổ chức trong nước, và họ cũng tránh bình luận chuyện nội bộ của láng giềng trên diễn đàn chính thức.
Ngoại giao kín và gặp gỡ thường xuyên. Nhiều vấn đề được giải quyết trong các cuộc gặp không chính thức hơn là văn bản. Lý Quang Diệu từng mô tả đại ý rằng giá trị lớn của ASEAN thời đầu là việc các bộ trưởng quen biết nhau, gọi điện được cho nhau khi có chuyện.
Nói thẳng ở hậu trường. Singapore nổi tiếng là thành viên đưa ra đề xuất cụ thể và lập luận sắc. Cách này có lúc được đánh giá cao, có lúc bị xem là thiếu mềm mỏng, và giới ngoại giao Singapore cũng học cách điều chỉnh giọng theo từng diễn đàn.
Vì sao Singapore thúc đẩy hợp tác kinh tế trong khối
Trong hai thập niên đầu, hợp tác kinh tế ASEAN chủ yếu dừng ở các dự án công nghiệp chung và ưu đãi thuế quan hẹp, hiệu quả hạn chế. Lý do dễ hiểu: các nước trong vùng khi đó sản xuất những mặt hàng tương tự nhau, cùng muốn bảo hộ ngành non trẻ, và thương mại nội khối chỉ chiếm phần nhỏ so với thương mại với Mỹ, Nhật, châu Âu. Singapore, với nền kinh tế mở gần như hoàn toàn, có ít thứ cần bảo hộ nhất, nên thường là bên muốn đi nhanh hơn.
Cuối thập niên 1980, hai thay đổi bên ngoài khiến các nước ASEAN cùng thấy cần tự do hoá. Một là các khối kinh tế lớn hình thành ở châu Âu và Bắc Mỹ, làm dấy lên lo ngại bị gạt ra ngoài. Hai là dòng đầu tư nước ngoài bắt đầu chảy mạnh vào Trung Quốc sau cải cách, buộc Đông Nam Á phải trở thành một thị trường đủ lớn để giữ chân nhà đầu tư. Trong bối cảnh ấy, Hội nghị Thượng đỉnh năm 1992 ở Singapore thống nhất khởi động AFTA với lộ trình giảm thuế nhiều năm.
Lập luận mà phía Singapore thường dùng là: từng nước Đông Nam Á riêng lẻ quá nhỏ để cạnh tranh thu hút đầu tư với các nền kinh tế khổng lồ; một thị trường chung hàng trăm triệu dân thì khác. Với Singapore, khu vực phát triển còn có nghĩa là có thêm khách hàng cho cảng, ngân hàng, dịch vụ của mình. Đây là ví dụ cụ thể của nguyên lý biến phụ thuộc thành phụ thuộc lẫn nhau, áp dụng ở cấp khu vực.
Những giới hạn và tranh luận về ASEAN
ASEAN hay bị phê bình là "nói nhiều làm ít": cơ chế đồng thuận khiến khối khó phản ứng nhanh với khủng hoảng, như trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997–1998 hay các vấn đề nội bộ của một số thành viên. Hợp tác kinh tế, dù đã có AFTA, vẫn gặp nhiều rào cản phi thuế quan.
Từ góc nhìn của Singapore, có những lúc lợi ích riêng không trùng với nhịp của khối. Chính vì vậy, từ đầu những năm 2000 Singapore song song ký nhiều hiệp định thương mại tự do song phương với các đối tác ngoài khu vực, cách làm từng gây tranh luận về việc có làm yếu tinh thần khu vực hay không. Những người bênh vực cho rằng các hiệp định đó tạo sức ép tự do hoá có lợi cho cả khối; người phê bình lo ngại về "cửa sau" cho hàng hoá ngoài khu vực.
Các nhà nghiên cứu nhìn chung đồng ý một điểm: ASEAN không phải liên minh quân sự, cũng không phải liên minh kinh tế sâu như Liên minh châu Âu. Giá trị của nó, đặc biệt với nước nhỏ như Singapore, nằm ở chỗ biến một vùng từng nhiều xung đột thành nơi các nước quen giải quyết bất đồng bằng thương lượng.
Đọc lịch sử ASEAN qua lăng kính nước nhỏ
Nếu đọc lịch sử ASEAN chỉ qua các văn kiện, bạn dễ thấy một tổ chức chậm chạp. Nếu đọc qua mắt một nước nhỏ năm 1967, bạn sẽ thấy điều khác: một khuôn khổ khiến láng giềng lớn tự ràng buộc vào các nguyên tắc như tôn trọng chủ quyền và giải quyết hoà bình. Với Singapore, đó chính là thứ cần nhất trong những năm dễ tổn thương.
Một câu hỏi hữu ích khi đọc tài liệu: mỗi sáng kiến ASEAN phục vụ lợi ích nào của từng thành viên? Ví dụ, ZOPFAN phản ánh mong muốn của Malaysia và Indonesia về một khu vực ít bị cường quốc chi phối, trong khi Singapore thực tế lại muốn các cường quốc có mặt để cân bằng. Văn kiện cuối cùng đủ rộng để chứa cả hai cách hiểu. Nhìn thấy những khoảng mềm như thế là hiểu được cách khối này tồn tại hơn nửa thế kỷ.
Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, sau giai đoạn hai bên có lập trường khác nhau về vấn đề Campuchia. Bài về quan hệ Việt Nam – Singapore trên trang này kể chi tiết hơn chặng chuyển từ khác biệt sang hợp tác đó.
Câu hỏi thường gặp
ASEAN thành lập năm nào và gồm những nước nào lúc đầu?
ASEAN thành lập ngày 8/8/1967 tại Bangkok với năm nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Sau đó Brunei gia nhập năm 1984, Việt Nam năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, Campuchia năm 1999. Timor-Leste là thành viên được kết nạp muộn hơn nhiều, trong giai đoạn gần đây.
Ai ký Tuyên bố Bangkok thay mặt Singapore?
Người ký là Ngoại trưởng S. Rajaratnam. Bốn người ký còn lại là đại diện ngoại giao cấp cao của Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Lý Quang Diệu không trực tiếp ký văn kiện này, nhưng với tư cách Thủ tướng, ông là người quyết định đường lối tham gia của Singapore.
ZOPFAN có mâu thuẫn với việc Singapore muốn Mỹ hiện diện không?
Có một độ căng nhất định. ZOPFAN thể hiện mong muốn khu vực trung lập, ít bị cường quốc chi phối, trong khi Singapore coi sự hiện diện của nhiều cường quốc là yếu tố cân bằng. Văn kiện được diễn đạt rộng nên các nước có thể cùng ký mà vẫn giữ cách hiểu riêng, một đặc trưng của ngoại giao ASEAN.
AFTA khởi động ở đâu và năm nào?
AFTA được khởi động tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tổ chức ở Singapore năm 1992. Mục tiêu là giảm dần thuế quan nội khối theo một lộ trình nhiều năm. Về sau khuôn khổ này được thay bằng Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN (ATIGA), là thứ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ngày nay làm việc cùng.
Vì sao ASEAN không trở thành liên minh như châu Âu?
Các thành viên khác nhau rất lớn về trình độ phát triển, thể chế và lợi ích; nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp được chọn chính để các nước khác biệt ấy vẫn ở chung. Hội nhập sâu đòi hỏi chuyển giao chủ quyền, điều mà hầu hết thành viên, kể cả Singapore, đều thận trọng.
Singapore có vai trò gì trong ASEAN hiện nay?
Singapore vẫn là thành viên tích cực, thường tập trung vào kinh tế, kết nối và kỹ thuật số. Tuy nhiên trang này viết theo góc lịch sử giai đoạn Lý Quang Diệu và không bình luận các vấn đề thời sự; bạn nên đọc nguồn chính thức của ASEAN để cập nhật.